Thứ bảy, ngày 4/6/2016
Đường dây nóng
(061) 3892 378 - 0918.535758
MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC KHI THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 82/2018/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ

             Nghị định số 82 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế được ban hành ngày 22/5/2018, có hiệu lực từ ngày 10/7/2018.  Nghị định 82 ra đời đã góp phần giải quyết một số hạn chế vướng mắc trong cơ chế, chính sách và quy định của pháp luật đối với các KCN, KKT; mặt khác bổ sung những quy định mới nhằm hoàn thiện thêm khung pháp lý liên quan đến hoạt động của các KCN, KKT, góp phần tạo dựng một môi trường đầu tư thuận lợi và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước KCN, KKT.

Song thực tế trong quá trình nghiên cứu, triển khai Nghị định 82 thời gian qua, các Ban Quản lý  đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước KCN, KKT như:

1. Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Ban Quản lý KCN, KKT: Do Nghị định 82 chưa phải là khung pháp lý cao nhất nên một số chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Quản lý KCN, KKT vẫn trong tình trạng bị một số Luật khác chi phối, gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Đến nay, liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Nội vụ chưa ban hành Thông tư hướng dẫn, thay thế Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV ngày 03/9/2015. Do vậy, các Ban quản lý chưa có cơ sở để triển khai tốt nhất cho công tác tổ chức, bộ máy của mình.

2. Về một số quy định cụ thể trong Nghị định 82:

a) Nghị định 82 chưa có quy định về Thanh tra chuyên ngành tại KCN, KKT và các quy định chế tài liên quan để Ban quản lý chủ động thực hiện các nhiệm vụ trên; không quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm ​​hành chính của Ban Quản lý. Do vậy, vị trí, vai trò và hiệu quả quản lý của các Ban Quản lý KCN, KKT còn hạn chế. Thực tế hiện nay khung pháp lý về quản lý nhà nước đối với các KCN, KKT chưa cao, vì vậy thiếu sự ổn định, bị các văn bản pháp luật chuyên ngành khác chi phối nên khi giải quyết TTHC cho nhà đầu tư gặp khó khăn. Để tạo thuận lợi trong công tác theo dõi, quản lý các doanh nghiệp trong khu công nghiệp theo luật định đề nghị bổ sung chức năng thanh tra và thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Ban Quản lý.

b) Theo Nghị định 82, Ban Quản lý cấp các loại Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa cho hàng hóa sản xuất tại khu công nghiệp và cấp các loại giấy phép, chứng chỉ, chứng nhận khác có liên quan của doanh nghiệp trong KCN trên cơ sở ủy quyền của Bộ Công Thương và các Bộ chuyên ngành; theo dõi kiểm tra các doanh nghiệp về tình hình sử dụng các loại Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và giấy phép, chứng chỉ, chứng nhận khác có liên quan đã được cấp. Tuy nhiên, hiện nay thiếu các quy định, tiêu chí cụ thể để thực hiện, điều này gây khó khăn khi thực thi tại địa phương. Do vậy, kiến nghị Bộ Công thương công bố tiêu chí, điều kiện cần đáp ứng đủ để các Ban Quản lý được ủy quyền cấp các loại Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa cho hàng hóa sản xuất tại KCN, KKT. Ban hành văn bản hướng dẫn các Ban Quản lý về việc cấp, theo dõi, kiểm tra đối với việc kinh doanh các mặt hàng thuộc diện quản lý chuyên ngành của Bộ Công Thương cũng như việc thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài đặt trụ sở tại KCN, KKT.

c) Khoản 3, Điều 29 Nghị định 82 quy định: Trường hợp cần thiết người nước ngoài (gồm: Nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia) được phép tạm trú tại doanh nghiệp trong KCN, KCX theo quy định của UBND cấp tỉnh. Đồng thời, tại Điều này cũng đã quy định một số điều kiện người nước ngoài phải đáp ứng khi tạm trú. Tuy nhiên, trên thực tế thực hiện sẽ phát sinh một số khó khăn, vướng mắc như sau:

- Về đối tượng tạm trú tại doanh nghiệp KCN: Nghị định 82 chỉ quy định đối tượng tạm trú là Nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, tuy nhiên, theo quy định pháp luật lao động thì lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam còn có thêm vị trí làm việc là lao động kỹ thuật. Và đối tượng này là đối tượng cần được tạm trú tại doanh nghiệp nhất vì họ sẽ thực hiện hoạt động hỗ trợ, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (xử lý các sự cố kỹ thuật khi doanh nghiệp hoạt động vào ban đêm);

- Việc quy định “theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh”, tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương căn cứ vào thực tế để xác định các quy định về tạm trú, tuy nhiên sẽ tạo nên những quy định không thống nhất trên phạm vi cả nước (VD: có địa phương quy định tỷ lệ, có địa phương không khống chế; có địa phương phải xin phép trước hoặc chỉ trong trường hợp vượt tỷ lệ mới xin phép,…) vô hình chung tạo ra những thủ tục khác biệt giữa các địa phương;  Đồng thời, Nghị định 82 cũng chưa nêu lên việc thực hiện kiểm tra các điều kiện tạm trú của người nước ngoài, hoặc các thủ tục để thực hiện việc tạm trú, như vậy trong trường hợp quy định của UBND cấp tỉnh xây dựng có nêu nội dung kiểm tra và thủ tục để thực hiện bố trí tạm trú thì sẽ có được xác định là phát sinh thêm thủ tục và “giấy phép con” không; 

- Về mục đích của KCN trong trường hợp bố trí tạm trú của người nước ngoài: Tại Khoản 1, Điều 29, Nghị định 82 cũng có quy định “trong KCN không có dân cư sinh sống”, do đó, nếu quy định cho phép tạm trú của người nước ngoài tại doanh nghiệp KCN cũng phần nào đã làm ảnh hưởng đến tiêu chí này. Một số doanh nghiệp sử dụng lao động nhiều lao động nước ngoài sẽ hình thành khu vực dân cư trong KCN.

d) Tại Điều 30 Nghị định 82 quy định như sau: “ ….. Doanh nghiệp chế xuất được quy định trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc trong văn bản của cơ quan đăng ký đầu tư có thẩm quyền trong trường hợp không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Cơ quan đăng ký đầu tư có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan hải quan có thẩm quyền về khả năng đáp ứng điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan trước khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc xác nhận bằng văn bản cho nhà đầu tư”. Thời gian qua đối với hồ sơ doanh nghiệp đề nghị đăng ký ghi nhận doanh nghiệp chế xuất trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đều được Ban Quản lý các KCN lấy ý kiến của cơ quan hải quan trước khi giải quyết hồ sơ theo đề nghị của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cơ quan hải quan tỉnh vẫn đang chờ hướng dẫn từ Tổng cục Hải quan nên chưa thể trả lời cho Ban Quản lý. Do đó, việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án hoạt động theo loại hình doanh nghiệp chế xuất hiện nay gặp nhiều khó khăn do phải chờ hướng dẫn từ các cơ quan liên quan.

Kiến nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định rõ điều kiện đối với dự án hoạt động theo loại hình doanh nghiệp chế xuất để cơ quan đăng ký đầu tư áp dụng mà không cần phải lấy ý kiến của cơ quan Hải quan.

Để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trên, hội nghị Câu lạc bộ các Ban Quản lý Khu công nghiệp, khu kinh tế các tỉnh/thành phía Nam cần kiến nghị các bộ, ngành sớm có các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định số 82/2018/NĐ-CP.

Văn phòng - BQL các KCN Đồng ​Nai

​BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 26, đường 2A, KCN Biên Hòa II, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Điện thọai: (0251) 3892378 - Fax: (0251) 3892379
Email: bqlkcn@dongnai.gov.vn, diza@diza.vn - Website: http://diza.dongnai.gov.vn​