Thứ bảy, ngày 4/6/2016
Đường dây nóng
(061) 3892 378 - 0918.535758

Câu hỏi
Họ và tên:
Điện thoại:
Địa chỉ:
Địa chỉ Email:
Tên câu hỏi:
Nội dung câu hỏi:

TRAO ĐỔI - HỎI ĐÁP
CÂU HỎI
Ngày hỏi: 03/05/2019 16:21

​Đề nghị hướng dẫn tính trợ cấp thôi việc trong thời gian thử việc

TRẢ LỜI
 

1. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc đã được quy định tại Khoản 1, Điều 1- Nghị định 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018.

Ngoài ra tại Khoản 3, Khoản 4, Điều 2- Nghị định 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018 có quy định:

- Trường hp hợp đồng lao động chấm dứt trước ngày Nghị định 148/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (trước ngày 15/12/2018) mà người sử dụng lao động chưa tính trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm cho người lao động thì thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm được xác định theo văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tại thời điểm hợp đồng lao động chấm dứt.

- Trường hợp hợp đồng lao động có hiệu lực trước ngày Bộ luật lao động năm 2012 có hiệu lực thi hành mà hp đồng lao động có thỏa thuận thời gian thử việc thì thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động làm căn cứ tính trợ cp thôi việc, trợ cp mt việc làm bao gồm cả thời gian thử việc trong hợp đng lao động.

Như vậy đối với trường hợp của Công ty, đề nghị căn cứ các quy định nêu trên để thực hiện.

2. Về tiền lương làm căn cứ để tính trợ cấp thôi việc đã được quy định cụ thể tại Khoản 3, Điều 48- Bộ luật lao động năm 2012, Khoản 1, Điều 21- Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015.​

Trân trọng./.
CÂU HỎI
Ngày hỏi: 03/05/2019 16:18

​Hướng dẫn về việc thanh toán tiền lương ngày nghỉ hàng năm

TRẢ LỜI

1. Theo quy định tại khoản 1 Điều 114 Bộ luật Lao động thì người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ.

Như vậy, trường hợp người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác (không phải trường hợp làm thêm giờ) mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán tiền lương theo quy định tại Khoản 4, Điều 26 - Nghị định 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ.

2. Theo quy định tại Điểm c, Khoản 1 Điều 97 - Bộ luật Lao động và Điểm c, Khoản 2 Điều 25 - Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ thì người lao động làm thêm giờ vào ngày nghỉ có hưởng lương được trả tiền lương ít nhất bằng 300% tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm, chưa kể tiền lương ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương theo ngày.

Như vậy, căn cứ vào quy định nêu trên, trường hợp nếu công ty đã có kế hoạch nghỉ hàng năm (đã tham khảo ý kiến của người lao động) và thông báo cho người lao động nghỉ, tuy nhiên người sử dụng lao động thỏa thuận người lao động đi làm vào ngày nghỉ đó thì được trả lương ít nhất bằng 300% tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm, chưa kể tiền lương ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương theo ngày.

Việc bố trí, sắp xếp ngày nghỉ hàng năm được thể hiện trong Nội quy lao động, Thỏa ước lao động tập thể hoặc hợp đồng lao động.

2. Đồng thời, lưu ý Công ty: việc quy định ngày nghỉ hàng năm trong Bộ luật Lao động nhằm mục đích là tạo điều kiện cho người lao động tái tạo sức lao động sau thời gian làm việc tại doanh nghiệp. Do đó, đề nghị Công ty bố trí, sắp xếp ngày nghỉ phép năm cho người lao động, hạn chế việc “không sử dụng, để dành phép” để được thanh toán bằng tiền. 

Trân trọng./.
CÂU HỎI
Ngày hỏi: 24/04/2019 10:42

​Hướng dẫn quy trình xử lý kỷ luật

TRẢ LỜI
 

1. Khoản 2, Khoản 3, Mục 12, Điều 1- Nghị định số 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018 quy định về trình tự xử lý xử luật lao động:

- Người sử dụng lao động thông báo nội dung, thời gian, địa điểm cuộc họp xử lý kỷ luật lao động đến thành phần tham dự quy định tại Điểm b, c Khoản 1,  Điều 123- Bộ luật Lao động, đảm bảo các thành phần này nhận được thông báo trước khi diễn ra cuộc họp. Khi nhận được thông báo của người sử dụng lao động, trong thời hạn tối đa 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, các thành phần tham dự phải xác nhận tham dự cuộc họp. Trường hp không tham dự phải thông báo cho người sử dụng lao động và nêu rõ lý do.

- Cuộc họp xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản và được thông qua các thành viên tham dự trước khi kết thúc cuộc họp. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham dự cuộc họp.

Như vậy, việc Công ty sử dụng hình thức thông báo (email hay bưu điện) cho người lao động về nội dung, thời gian, địa điểm cuộc họp xử lý kỷ luật lao động và hình thức tổ chức cuộc họp xử lý kỷ luật gián tiếp qua video (Công ty có chi nhánh tại Hà Nội) do Công ty quyết định dựa trên quy định nội bộ phù hợp hoạt động điều hành sản xuất của Công ty, tuy nhiên phải đảm bảo người lao động nhận được thông báo trước khi diễn ra cuộc họp và đảm bảo Biên bản cuộc họp được thông qua các thành viên tham dự trước khi kết thúc cuộc họp. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham dự cuộc họp.

2. Khoản 2, Điều 31- Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 quy định:  Người lao động nghỉ việc có lý do chính đáng trong các trường hợp: Do thiên tai, hỏa hoạn; Bản thân, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố vợ, mẹ vợ, bố chồng, mẹ chồng, vợ hoặc chồng, con đẻ, con nuôi hợp pháp bị ốm có giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật; Các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

 Do đó, đối với việc xác định người lao động Công ty nghỉ ốm có lý do chính đáng hay không, đề nghị Công ty căn cứ quy định nêu trên để thực hiện.​

Trân trọng./.
CÂU HỎI
Ngày hỏi: 24/04/2019 10:41

​Thanh toán ngày nghỉ hàng năm đã nghỉ

TRẢ LỜI
 
Khoản 2, Điều 47, Bộ luật Lao động có quy định: Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

Như vậy, khi người lao động đã nghỉ vượt quá tiêu chuẩn ngày nghỉ hàng năm (thông qua việc ứng trước ngày nghỉ hàng năm) như trong trường hợp được nêu tại văn bản của Công ty, thì khi chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động có trách nhiệm trong việc giải quyết thanh toán với Công ty về số ngày nghỉ hàng năm đã nghỉ vượt quá tiêu chuẩn theo quy định trên.

     Ngoài ra, trong trường hợp hai bên có thỏa thuận về việc giải quyết số ngày nghỉ hàng năm vượt quá này thì thực hiện theo thỏa thuận của hai bên (việc thỏa thuận không được trái với các quy định pháp luật lao động).​

Trân trọng./.
CÂU HỎI
Ngày hỏi: 09/04/2019 14:20

​Sử dụng chữ ký dạng con dấu để  ký kết các giấy tờ liên quan đến lao động

TRẢ LỜI

Bộ luật Lao động quy định các loại hợp đồng (hợp đồng lao động, hợp đồng đào tạo nghề) là sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động về các nội dung theo quy định pháp luật. Hợp đồng phải được giao kết bằng văn bản và làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản (trừ trường hợp đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết HĐLĐ bằng lời nói). Đây là cơ sở để phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên đồng thời là cơ sở để giải quyết các tranh chấp trong quan hệ lao động.

Khi ký kết HĐLĐ bằng văn bản thì phải có chữ ký của các bên tham gia giao kết nhằm thể hiện ý chí của các bên. Về nguyên tắc, mọi chữ ký đều phải là chữ ký trực tiếp của chính người ghi tên bên dưới chữ ký. Đối với doanh nghiệp, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chính là một công cụ nhằm thể hiện tư cách đại diện cho doanh nghiệp trong việc tham gia các giao dịch, giao kết hợp đồng. Còn con dấu chữ ký chỉ là sự mô phỏng chữ ký thật và không được đăng ký hay công nhận ở bất cứ một cơ quan có thẩm quyền nào. Một số quy định pháp luật đã quy định cụ thể về chữ ký: “Chữ ký phải có đủ chữ ký theo chức danh quy định trên chứng từ. Chữ ký trên chứng từ kế toán phải được bằng loại mực không phai. Không được ký chứng từ kế toán bằng mực màu đỏ hoặc đóng dấu chữ ký khắc sẵn….” (Điều 19, Luật Kế toán 2015).

 Do đó, để đảm bảo tính pháp lý của các loại hợp đồng giao kết giữa người sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp, đề nghị Công ty không sử dụng con dấu chữ ký để ký các loại hợp đồng liên quan đến người lao động.

Trân trọng./.

​BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 26, đường 2A, KCN Biên Hòa II, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Điện thọai: (0251) 3892378 - Fax: (0251) 3892379
Email: bqlkcn@dongnai.gov.vn, diza@diza.vn - Website: http://diza.dongnai.gov.vn​